YELLOW JOURNALISM
Nghĩa đen:
Thông tin báo chí màu vàng
Nghĩa rộng:
Thông tin báo chí bị thổi phồng, giật gân một cách quá mức để câu khách kiếm lời (journalism that is exaggerated or unnecessarily sensational)
Tiếng Việt có cách nói tương tự:
Báo chí lá cải, báo chí giật gân, báo chí vỉa hè…
Ví dụ:
Some of the newspapers that are for sale at the checkout counter of the supermarket have headlines that are sensational as well as untrue. They are an example of yellow journalism.
Một vài tờ báo bày bán ở quầy tính tiền của siêu thị có tít rất giật gân và không đúng sự thật. Đó là ví dụ về báo chí lá cải.
Some newspaper reporters resort to yellow journalism to sell more copies of their newspapers. They unnecessarily report the shocking details of events such as robberies, murders, rapes, just to get headlines that catch the eye.
Một số phóng viên quay bút sang thể loại lá cải để bán được nhiều hơn. Họ đưa những thông tin không cần thiết, tường thuật các chi tiết gây sốc của của các sự kiện như cướp của, giết người, hiếp dâm, chỉ để có những hàng tít thu hút người đọc.
Nguồn gốc:
Báo chí lá cải là thể loại báo chí chủ trương giật gân kiếm lời hơn là thông tin về sự thật.
Thuật ngữ “yellow journalism” bắt nguồn từ cuộc cạnh tranh trên thị trường báo chí New York giữa hai tòa báo lớn, tờ New York World – chủ bút là Joseph Pulitzer và tờ New York Journal – chủ bút là William Randolph Hearst.
Khởi đầu, yellow journalism không liên quan gì tới việc đưa tin báo chí, mà chỉ là thuật ngữ phái sinh từ series truyện tranh nổi tiếng về cuộc sống dân nghèo ở các khu nhà ổ chuột. Series truyện tranh này tên là Hogan’s Alley (ngõ của Hogan), do họa sỹ Richard F. Outcault vẽ. Đây là series truyện tranh trên tờ New York World của Pulitzer. Nhân vật chính của truyện là một cậu bé mặc đồ màu vàng, dần nổi tiếng và được đặt biệt danh là “the Yellow Kid”, góp phần làm số lượng phát hành của tờ New York World tăng vọt.
Năm 1896, để tăng doanh số bán tờ New York Journal của mình, Hearst tìm cách kéo họa sỹ Outcault từ Pulitzer về làm việc cho mình, dẫn đến cuộc chiến giá cả khốc liệt hai tòa báo để có được Outcault. Cuối cùng thì Hearst thắng. Nhưng Pulitzer không chịu bỏ cuộc. Ông thuê một họa sỹ khác và tiếp tục vẽ nhân vật truyện tranh cho tờ báo của mình.
Cuộc chiến về nhân vật truyện tranh này – the Yellow Kid và lợi nhuận mà nó mang lại chính là khởi nguồn cho thuật ngữ “yellow journalism”.
Sau khi thuật ngữ này đã được định hình, nó tiếp tục khoác thêm lớp ý nghĩa mới, đó là dùng để chỉ phong cách đưa tin giật gân kiếm lợi của hai tòa báo về các sự kiện trên thế giới, nhất là tại Cuba và Philippines. Và đây cũng là một trong các lý do đẩy nước Mỹ và Tây Ban Nha vào cuộc chiến tại Cuba và Philippines (các thuộc địa của Tây Ban Nha), dẫn tới việc Mỹ chiếm được một phần lãnh thổ thuộc địa của Tây Ban Nha ở nước ngoài.
Thuật ngữ “yellow journalism” với nghĩa như trên (giật gân, câu khách bằng đủ mọi hình thức nhằm kiếm lời) là thuật ngữ riêng của người Mỹ.
Người Anh có thuật ngữ với nghĩa tương đương: tabloid journalism (tabloid là tờ báo khổ nhỏ, chủ yếu đưa tin giật gân kiểu cướp – giết – hiếp, xem bói, nhân vật nổi tiếng, chuyện phiếm, tin tức lặt vặt. Gọi là tabloid nhưng không có nghĩa tờ báo lá cải nào cũng khổ nhỏ, và không phải tờ báo khổ nhỏ nào cũng là báo lá cải. Đây chỉ là tên gọi đặc trưng.)
Xem một vài ví dụ về yellow journalism:
- Tàu chiến Mỹ bị Tây Ban Nha đánh chìm: Nhân vụ tàu chiến Mỹ Maine chìm vì một vụ nổ không rõ nguyên nhân, Joseph Pulitzer và William Randolph Hearst ngay lập tức đưa nhiều bài rằng Tây Ban Nha có kế hoạch thực hiện vụ đánh chìm tàu này. Các bài báo dựng chuyện của hai tòa báo đã góp phần đẩy căng thẳng giữa Mỹ và Tây Ban Nha lên mức cao hơn và cuối cùng dẫn tới cuộc chiến vào năm 1898.
- Samsung trả 1.2 tỷ đô tiền phạt bằng tiền xu cho Apple: Chỉ là tin vịt.
Xem một vài ví dụ về công nghệ giật tít kiểu yellow journalism:
- Titanic Survivors Found Onboard (Tìm thấy nạn nhân sống sót vụ Titanic trên tàu)
- Vampires Attack US Troops (Ma cà rồng tấn công lính Mỹ)
- Dolphin Grows Human Arms (Cá heo mọc tay người)
- Abraham Lincoln was a Woman (Abraham Lincoln là phụ nữ)
- Man’s Head Explodes in Barber’s Chair (Người đàn ông nổ tung đầu ở tiệm cắt tóc)
Cách dùng:
Không có gì đặc biệt.
PULITZER PRIZE
Hay đáo để là đồng chí Pulitzer lại là tượng đài cho một giải thưởng báo chí danh tiếng, được nhiều tay viết khao khát: Pulitzer Prize!!! Đoàng, đoàng!!! (Thêm tý âm thanh cho thêm phần giật gân câu khách!)
Đây là giải do trường Đại học Columbia University (New York) tổ chức và trao thưởng hàng năm. Giải được trao cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực báo chí, văn học, âm nhạc. Xem thêm ở đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_Pulitzer
Nếu xét theo tiêu chí “tổ nghề yellow journalism” thì có lẽ giải này bây giờ quá thường bởi vì số người có trình độ vượt mặt “tổ nghề” đã lên đến con số báo động, đặc biệt là các Youtuber với công nghệ giật tít ở mức kinh hoàng (“tổ nghề” mà có sống lại thì cũng chỉ dám vái một cái rồi nằm xuống hẳn).
